5. Đức Vương Đức Phi Điệp

 

Nguyên văn:

德王德妃牒

 

啟建資福道場大齋壇  兹奉

大南國嗣統皇帝...、建壇于純毅堅太王祠奉

佛修齋諷經資福酬恩事、惟日虔僃齋儀、載陳菲禮、願焄蒿之默鑒、證芹曝之微忱、啟請于

德王德妃之金靈。

竊惟、乾元合德、坤厚成能、基美化于關雎、開祥源于長發、旣篤天家之貺、方瞻鳳葆之和、雲騈遞返于仙遊、玉曆卅餘于華歲、願酬昊德、須仗鴻恩。兹者辰惟孟月、節屆夏天、槐蔭盈庭、荷香滿沼、莊嚴海會、壇開三晝之連霄、瑞靄雲烟、香滿十方之世界、諷誦大乘三寶尊經... (如前)、頂禮鴻名寶號、集此良因、祈增福果。今則齋筵肆設、科範宣揚、尚祈仙馭以光臨、普霑甘露、淨聽靈乘而覺悟、速證菩提、默扶寶祚以增隆、協俾臣民之康泰。須至牒請者。

右牒請

王妃徽號之金靈洞鑒。

 

Phiên âm:

ĐỨC VƯƠNG ĐỨC PHI ĐIỆP

 

Khải Kiến Tư Phước Đạo Tràng Đại Trai Đàn

Tư phụng: Đại Nam Quốc Từ Thống Hoàng Đế…, kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; duy nhật kiền bị trai nghi, tải trần phỉ lễ; nguyện huân hao chi mặc giám, chứng cần bộc chi vi thầm; khải thỉnh vu:

Đức Vương Đức Phi Chi Kim Linh.

Thiết duy: Càn nguyên hợp đức, khôn hậu thành năng; cơ mỹ hóa vu quan thư, khai tường nguyên vu trường phát; kí đốc thiên gia chi huống, phương chiêm phụng bảo chi hòa; vân biền đệ phản vu tiên du, ngọc lịch tạp du vu hoa tuế; nguyện thù hạo đức, tu trượng hồng ân. Tư giả thần duy mạnh nguyệt, tiết giới Hạ thiên; hòe ấm doanh đình, hà hương mãn chiểu; trang nghiêm hải hội, đàn khai tam trú chi liên tiêu; thoại ải vân yên, hương mãn thập phương chi thế giới; phúng tụng Đại Thừa Tam Bảo Tôn Kinh … (như tiền), đảnh lễ hồng danh bảo hiệu; tập thử lương nhân, kỳ tăng phước quả. Kim tắc trai diên tứ thiết, khoa phạm1 tuyên dương; thượng kỳ tiên ngự2 dĩ quang lâm, phổ triêm Cam Lộ; tịnh thính linh thừa nhi giác ngộ, tốc chứng Bồ Đề; mặc phò bảo tộ dĩ tăng long, hiệp tỷ thần dân chi khang thái. Tu chí điệp thỉnh giả.

Hữu Điệp Thỉnh

Vương Phi Huy Hiệu Chi Kim Linh động giám.

 

Dịch nghĩa:

ĐIỆP CÚNG ĐỨC VUA ĐỨC PHI

 

Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước

Nay vâng: Việc Hoàng Đế kế vị Nguyễn Phúc … nước Đại Nam, lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay thiết đủ nghi chay, kính bày lễ mọn; mong cúng tế thầm chứng giám, nhận lễ bạc với tâm thành; cung thỉnh đến:

Kim linh Đức Vương Đức Phi …

Cúi nghĩ: Trời cao hợp đức, đất dày vạn năng; làm đẹp thêm cho hậu phi, mở điềm lành càng phát đạt; giúp đỡ nhà Trời dốc chí, mới trông lọng báu hòa hài; xe Tiên trở về chốn cõi Tiên, lịch ngọc mấy mươi năm tuế nguyệt; muốn đền đức cả, đạt thấu hồng ân. Nay lúc đầu tháng, tiết thuộc trời Hè; khắp hồ sen ngát, trang nghiêm pháp hội, đàn mở xuyên suốt ba ngày đêm; mây lành nghi ngút, hương ngát mười phương bao thế giới; trì tụng tôn kinh Tam Bảo Đại Thừa … (như trước), đảnh lễ hồng danh hiệu Phật, lấy nhân tốt nầy, cầu tăng quả phước. Nay tất cỗ chay thiết sẵn, khoa lễ tuyên bày; mong cầu tiên hạc hãy quang lâm, thấm khắp Cam Lộ; nghe rõ linh văn mà giác ngộ, sớm chứng Bồ Đề; thầm phò ngôi báu được dài lâu, cùng giúp thần dân luôn an thái. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Thỉnh

Kim linh Vương Phi huy hiệu … chứng giám.

 

Chú thích:

  1. Khoa phạm (科範): khoa nghi, nghi thức, quy cách. Như trong Nghiễn Bắc Tạp Chí (硯北雜志) của Lục Hữu (, ?-?) nhà Nguyên có đoạn: “Lô Sơn đạo sĩ Hoàng Khả Lập chi ngôn viết: ‘Khấu Khiêm Chi, Đỗ Quang Đình chi khoa phạm, bất như Ngô Quân chi thi’ (廬山道士黃可立之言曰謙之杜光庭之科範不如吳筠之詩, Đạo sĩ ở Lô Sơn là Hoàng Khả Lập nói rằng: ‘Khoa nghi của Khấu Khiêm Chi [365-448, đạo sĩ thời Nam Bắc Triều], Đỗ Quang Đình [850-933, đạo sĩ trứ danh nhà Đường], không như thơ của Ngô Quân [?-778, đạo sĩ trứ danh nhà Đường]’).”
  2. Tiên ngự (仙馭): có ba nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho con hạc do tiên nhân cỡi đi. Như trong bài thơ Đáp Giả Chi Sứ Ký Hạc (答賈支使寄鶴) của Tiết Năng (薛能, ?-?) nhà Đường có câu: “Thụy vũ kỳ tư lượng thương hình, xưng vi tiên ngự quá thanh minh (瑞羽奇姿踉蹌形稱爲仙馭過青冥, lông đẹp dáng kỳ bước loạng choạng, xưng là tiên hạc qua trời xanh).” (2) Xưa kia cho rằng người chết đi là cỡi hạc rong chơi cõi tiên, nên gọi là tiên ngự. Như trong bài Đại Hành Hoàng Thái Hậu Vãn Ca Từ (大行皇太后輓歌詞) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Vân tùy tiên ngự viễn, phong trợ thánh tình ai (雲隨仙馭遠風助聖情哀, mây theo tiên hạc đi xa, gió thêm buồn bã bao la thánh tình).” (3) Chỉ cho xa giá của Hoàng đế. Như trong bài thơ Phú Thu Nhật Huyền Thanh Quang Tứ Phòng Huyền Linh (賦秋日懸清光賜房玄齡) của vua Thái Tông (太宗, tại vị 626-649) nhà Đường có câu: “Tiên ngự tùy luân chuyển, linh ô đới ảnh phi (仙馭隨輪轉靈烏帶影飛, xe vua theo bánh chuyển, quạ thiêng cỡi bóng bay).” Trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 17 cũng có câu: “Ngũ thất tiến nghiêm Hoàng Thái Hậu, vị tri tiên ngự vãng hà phương (五七薦嚴皇太后未知仙馭往何方, ngũ tuần hiến cúng Hoàng Thái Hậu, chưa hay tiên hạc về chốn nào).”